Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu nãm 2024 tỉnh Bình Định

Thứ bảy - 06/07/2024 08:33
Hoạt động kinh tế - xã hội phục hồi tích cực hơn, tháng sau tích cực hơn tháng trước; tãng trưởng vượt dự báo kịch bản 6 tháng đầu nãm 2024 tỉnh Bình Định.
Ảnh KTXH tháng 6 2024
Ảnh KTXH tháng 6 2024
1. Tăng trưởng kinh tế
Sáu tháng đầu năm 2024, các sở, ngành, các địa phương trong tỉnh tập trung quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 75/NQ-HĐND ngày 06/12/2023 của HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 và Quyết định số 4547/QĐ-UBND ngày 14/12/2023 của UBND tỉnh Bình Định về việc giao chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và giải pháp chủ yếu, nhiệm vụ cụ thể thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 trên địa bàn tỉnh. Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) quý II năm 2024 ước tính tăng 8,68%; 6 tháng đầu năm 2024 tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) ước tính tăng 7,60%[1] xếp vị thứ 1 trong vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, vị thứ 4 trong 14 tỉnh Bắc trung bộ và Duyên hải miền Trung và xếp vị thứ 19 cả nước.
2. Ngân hàng
Ước tính đến cuối tháng 6/2024, tổng số dư huy động của hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh ước đạt 108.450 tỷ đồng, tăng 9,5% so với cùng kỳ và tăng 3,9% so với tháng 12 năm 2023.
Tổng dư nợ cho vay tính đến 30/6/2024 ước đạt 107.370 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ và tăng 3,6% so với tháng 12 năm 2023.
Ước đến 30/6/2024, nợ xấu trên địa bàn tỉnh chiếm 0,9% so với tổng dư nợ.  
3. Giá cả
3.1. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
Sáu tháng đầu năm 2024, tỉnh Bình Định đã tổ chức nhiều sự kiện văn hóa, thể thao; vui chơi giải trí; nhất là tháng 6 – tháng cao điểm của mùa du lịch thu hút một lượng lớn khách du lịch đến tỉnh, nhằm kích cầu du lịch trong tỉnh, do đó CPI 6 tháng đầu năm 2024 tại tỉnh Bình Định tăng 2,71% so với bình quân cùng kỳ. Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bình Định chỉ đạo và điều hành quyết liệt, sâu sát, do đó, chỉ số giá tiêu dùng trong tầm kiểm soát đã góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế, tác động tích cực đến đầu tư và sản xuất kinh doanh.
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của tỉnh Bình Định tháng 6 năm 2024 tăng 0,17% so tháng trước; tăng 3,14% so với cùng kỳ năm trước; tăng 1,46% so với tháng 12 năm trước.
Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính của tháng 6/2024, 04 nhóm tăng giá so với tháng trước như: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,76%; nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và VLXD tăng 0,43%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,03%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%. Ngược lại, có 03 nhóm giảm: Nhóm giao thông giảm 2,14%; nhóm văn hóa, giải trí du lịch giảm 0,21%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,02%. Có 04 nhóm chỉ số ổn định so với tháng trước là nhóm đồ uống và thuốc lá; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép; nhóm bưu chính viễn thông và nhóm giáo dục.
3.2. Chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
Tháng 6 năm 2024, giá vàng thế giới tăng đã ảnh hưởng đến giá vàng trong nước tăng. Tại Bình Định, giá vàng tại thị trường trong tỉnh bình quân 7.194 ngàn đồng/chỉ, giảm 1,04% so tháng trước, tăng 31,86% so cùng kỳ; Giá đô la Mỹ tại địa phương bình quân tháng 6 năm 2024 là 25.463 VND/USD, giảm 0,2% so tháng trước, tăng 7,69% so cùng kỳ.
Chỉ số giá vàng quý II/2024 tăng 13,89% so với quý trước; tăng 32,07% so với cùng kỳ; đô la Mỹ tăng 2,84% so với quý trước; tăng 7,48% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá vàng bình quân 6 tháng đầu năm 2024 tăng 24,68% và đô la Mỹ tăng 5,74% so với cùng kỳ.
3.3. Giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm, thủy sản
Chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2024 tăng 0,7% so với quý trước. Trong đó, sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 1,6%; Sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan giảm  0,3%; Sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng giảm 0,7%
So với cùng kỳ, chỉ số giá bán sản phẩm của người sản xuất hàng nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2024 tăng 3,2%. Trong đó, sản phẩm nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 4,5%, Sản phẩm lâm nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng  0,4% ; Sản phẩm thủy sản khai thác, nuôi trồng tăng 1,3%.
3.4. Giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý II/2024 tăng 0,69% so với quý trước và tăng 2,64% so cùng kỳ.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 1,65%, trong đó chỉ số giá nhóm sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,22%, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm từ khai khoáng tăng 3,32%; nguyên vật liệu khác tăng 0,93%; điện, khí đốt, hơi nước và điều hòa không khí tăng 9,91%; nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm nước tự nhiên khai thác giữ ổn định; nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản phẩm xây dựng tăng 2,84%; nguyên nhiên vật liệu dùng cho dịch vụ chuyên môn khoa học công nghệ tăng 4,82% so với cùng kỳ.
3.5. Chỉ số giá sản xuất công nghiệp
Chỉ số giá sản xuất công nghiệp quý II/2024 tăng 0,48% so với quý trước và giảm 0,81% so cùng kỳ: Chỉ số sản phẩm khai khoáng tăng 4,2% so với quý trước và tăng 20,66% so cùng kỳ; Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,46% so với quý trước nhưng giảm 1,08% so cùng kỳ; Chỉ số giá sản xuất điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,22% so quý trước và tăng 0,5% so cùng kỳ; Chỉ số nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,16% so quý trước và tăng 1,11% so cùng kỳ.
Chỉ số giá sản xuất công nghiệp bình quân 6 tháng năm 2024 giảm 1,72% so cùng kỳ chủ yếu do nhóm công nghiệp chế biến chế tạo giảm, cụ thể: Chỉ số sản phẩm khai khoáng tăng 18,78%; Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2%; Chỉ số giá sản xuất điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí giảm 0,04%; Chỉ số nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,04%.
4. Đầu tư và xây dựng
4.1 Đầu tư
Tổng mức thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh Bình Định 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 18.968,3 tỷ đồng, tăng 9% so với cùng kỳ.
- Vốn Nhà nước trên địa bàn ước đạt 6.729,7 tỷ đồng, chiếm 35,5%, tăng 0,3%. Trong đó, Vốn Nhà nước Trung ương quản lý ước đạt 2.038,9 tỷ đồng, chiếm 10,8%, tăng 15%; vốn Nhà nước địa phương quản lý ước đạt 4.690,8 tỷ đồng, chiếm 24,7%, giảm 5%;
- Vốn ngoài Nhà nước ước đạt 11.726 tỷ đồng, chiếm 61,8%, tăng 15,1%. Trong đó, Vốn của tổ chức, doanh nghiệp ngoài Nhà nước ước đạt 5.940 tỷ đồng, chiếm 31,3%, tăng 21,8%; vốn đầu tư của dân cư ước đạt 5.786 tỷ đồng, chiếm 30,5%, tăng 9%;
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 512,6 tỷ đồng, chiếm 2,7%, tăng 1,2%.
Theo khoản mục đầu tư, vốn đầu tư xây dựng cơ bản ước đạt 15.779,6 tỷ đồng, chiếm 83,2%, tăng 6,7%; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 1.840,6 tỷ đồng, chiếm 9,7%, tăng 20,7%; vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp tài sản cố định ước đạt 495 tỷ đồng, chiếm 2,6%, tăng 24,2%; đầu tư bổ sung vốn lưu động ước đạt 632,1 tỷ đồng, chiếm 3,3%, tăng 22,8% và vốn đầu tư khác ước đạt 221 tỷ đồng, chiếm 1,2%, tăng 27,4% so với cùng kỳ.
4.2. Xây dựng
Tiến độ thi công dự án đường bộ cao tốc Bắc – Nam qua địa bàn tỉnh đang được đẩy nhanh với khối lượng rất lớn, ước tính đến cuối tháng 6 năm 2024 đạt khoảng 6.956 tỷ đồng. Phấn đấu đến cuối năm 2024 thi công được khoảng 65% giá trị công trình và sẽ hoàn thành trong năm 2025.
Dự án tuyến đường cao tốc Bắc – Nam là dự án lớn qua địa bàn tỉnh. Đồng thời cũng còn có nhiều dự án giao thông trọng điểm nhóm A, B khác đang triển khai trên địa bàn tỉnh.
5. Tình hình hoạt động của doanh nghiệp
5.1. Tình hình hoạt động doanh nghiệp
Ước tính 6 tháng đầu năm 2024, toàn tỉnh có 600 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với số vốn đăng ký đạt 5.000 tỷ đồng, vốn bình quân một doanh nghiệp đạt 8,3 tỷ đồng.
Tỉnh Bình Định đã tăng cường hoạt động xúc tiến, kêu gọi thu hút đầu tư, nhất là các dự án sản xuất công nghiệp, đô thị, du lịch vào Khu kinh tế Nhơn Hội và các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đã tổ chức tiếp và làm việc với các tổ chức, doanh nghiệp, đối tác đến khảo sát, tìm hiểu và đăng ký đầu tư trên các lĩnh vực công nghiệp, năng lượng tái tạo, xây dựng khu đô thị sinh thái và nghỉ dưỡng cao cấp, dịch vụ du lịch, trí tuệ nhân tạo, nông nghiệp công nghệ cao... Đặc biệt, đã tiếp và làm việc với Đại sứ quán, Lãnh sự quán, Đoàn công tác của các quốc gia như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Pháp, UAE, Ấn Độ…; làm việc các doanh nhân thành đạt, nhà đầu tư nước ngoài; tổ chức Hội nghị xúc tiến thương mại với Hiệp hội Doanh nghiệp Việt Nam - Canada; tổ chức Đoàn công tác xúc tiến đầu tư tại Thái Lan, Nhật Bản; đi thăm, làm việc tại 04 tỉnh Nam Lào và tham dự Hội nghị hợp tác thương mại, đầu tư khu vực Nam Lào;…
Sáu tháng đầu năm 2024, tình hình chung ngành công nghiệp có nhiều khởi sắc; tuy nhiên, một số ngành còn gặp khó khăn về thị trường tiêu thụ, chi phí nguyên vật liệu đầu vào cao, nhiều doanh nghiệp nguồn tài chính không đảm bảo, sự cạnh tranh khốc liệt của hàng hoá trong và ngoài nước, do đó, ước tính có 60 doanh nghiệp giải thể, rời khỏi thị trường.
5.2. Xu hướng sản xuất kinh doanh ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cho thấy xu hướng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Quý II/2024 khả quan hơn so với Quý I/2024 với tỷ lệ doanh nghiệp đánh giá tốt lên nhiều hơn 25,24% so với tỷ lệ doanh nghiệp nhận định khó khăn. Cụ thể: Có 47,57% số doanh nghiệp đánh giá tình hình sản xuất kinh doanh tốt hơn (tập trung vào nhóm sản xuất đồ uống, dệt, sản xuất da và các sản phẩm có liên quan, chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ); 22,33% số doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn (tập trung vào các nhóm ngành sản xuất trang phục, sản xuất giường, tủ, bàn, ghế); còn lại số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định chiếm tỷ lệ 30,1%. Dự kiến Quý III/2024 so với Quý II/2024 tiếp tục chiều hướng tích cực với 50,49% số doanh nghiệp lạc quan vào tình hình sẽ tốt lên; 39,8% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định; chỉ có 9,71% số doanh nghiệp dự báo kém đi.
6. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
6.1. Nông nghiệp
a. Trồng trọt
Theo kết quả sơ bộ, tổng diện tích gieo trồng các loại cây hàng năm vụ Đông Xuân 2023-2024 đạt 78.023,2 ha, tăng 0,1% (+103,3 ha) so với vụ Đông Xuân năm trước. Trong đó, diện tích gieo trồng lúa Đông Xuân ước đạt 46.788 ha, giảm 0,2% (-93,6 ha) so cùng kỳ; năng suất lúa ước đạt 73,5 tạ/ha, tăng 2,2% (+1,6 tạ/ha); sản lượng lúa ước đạt 343.689 tấn, tăng 2% (+6.726,8 tấn) so với cùng kỳ.
Diện tích gieo trồng ngô đạt 2.306,3 ha, giảm 0,6% (-12,9 ha); năng suất đạt 66,9 tạ/ha, tăng 0,6% (+0,4 tạ/ha); sản lượng đạt 15.421,1 tấn, tăng 3,1 tấn.
Diện tích sắn đạt 7.393,1 ha, giảm 8,3% (-669,2 ha); năng suất đạt 292,1 tạ/ha, tăng 1,3% (+3,8 tạ/ha); sản lượng đạt 215.946 tấn, giảm 7,1% (-16.461 tấn).
Diện tích lạc đạt 8.853,3 ha, tăng 3,9% (+332,4 ha); năng suất đạt 43,1 tạ/ha, tăng 2,1% (+0,9 tạ/ha); sản lượng đạt 38.193,5 tấn, tăng 6,2% (+2.218,8 tấn).
Diện tích rau các loại đạt 5.659,2 ha, giảm 0,7% (-37,7 ha); năng suất đạt 199,9 tạ/ha, tăng 5,5% (+10,4 tạ/ha); sản lượng đạt 113.129,1 tấn, tăng 4,8% (+5.180,2 tấn).
Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước đạt 18.195,2 ha, giảm 4,8%         (-913,9 ha) so với cùng kỳ. Trong đó, cây ăn quả đạt 5.205,7 ha, giảm 1,3%    (-68,2 ha); cây công nghiệp đạt 12.051,7 ha, giảm 7,3% (-944,3 ha). Sản lượng thu hoạch của một số loại cây trồng so cùng kỳ: Cây xoài đạt 3.825,6 tấn, giảm 10,3% (-437,9 tấn); cây chuối đạt 10.856 tấn, giảm 3,4% (-380,5 tấn); cây cam đạt 329,6 tấn, tăng 1,5% (+5 tấn); cây bưởi đạt 675,2 tấn, tăng 10,2% (+62,7 tấn); cây dừa đạt 59.423,6 tấn, giảm 0,2% (-145,4 tấn); điều đạt 1.156,9 tấn, giảm 20,6% (-299,4 tấn); hồ tiêu đạt 472,6 tấn, tăng 2,2% (+10,3 tấn).
b. Chăn nuôi
Tính đến tháng 6/2024, đàn trâu của tỉnh ước đạt 14.293 con, giảm 12,2%       (-1.993 con) so với cùng kỳ. Đàn bò ước đạt 305.999 con, tăng 0,5% (+1.582 con); trong đó, bò sữa ước đạt 2.154 con, giảm 3% (-67 con). Đàn lợn (không kể lợn con chưa tách mẹ) ước đạt 695.362 con, tăng 3,5% (+23.464 con). Đàn gia cầm ước đạt 9.952,7 nghìn con, giảm 1,3% (-131,2 nghìn con); trong đó, đàn gà 8.435,8 nghìn con, giảm 0,3% (-27,1 nghìn con).
Sáu tháng đầu năm 2024, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng ước đạt 727 tấn, giảm 11,1% (-91 tấn); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng ước đạt 20.089,7 tấn, tăng 0,9% (+182,7 tấn); sản lượng sữa ước đạt 6.117,3 tấn, giảm 1,6% (-102,1 tấn); sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ước đạt 70.064 tấn, tăng 6,2% (+4.115,4 tấn); sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng ước đạt 14.799 tấn, tăng 3,7% (+531,4 tấn); trong đó, thịt gà hơi xuất chuồng 12.896,6 tấn, tăng 5,6% (+685,4 tấn) so với cùng kỳ.
6.2. Lâm nghiệp
Công tác trồng rừng: Năm nay, thời tiết tương đối thuận lợi những tháng đầu năm, nên 6 tháng đầu năm diện tích trồng rừng đạt 1.073,6 ha, tăng 38,1% (+296,3 ha) so với cùng kỳ.
Công tác chăm sóc rừng trồng: Năm 2024, diện tích rừng trồng đưa vào chăm sóc đạt 19.500 ha, bằng cùng kỳ năm trước. Nhìn chung diện tích rừng được chăm sóc sinh trưởng và phát triển tốt.
Tổng số gỗ khai thác toàn tỉnh tháng 6/2024 đạt 160.623 m3, tăng 2,9% (+4.593,2 m3) so với cùng kỳ; tổng số gỗ khai thác 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 531.821 m3, tăng 2,3% (+11.965 m3) so với cùng kỳ. Toàn bộ gỗ từ rừng trồng chủ yếu là gỗ làm nguyên liệu.
Tổng số củi khai thác tháng 6/2024 đạt 64.958,4 ster, giảm 0,1% (-85,1 ster) so với cùng kỳ, nâng tổng số củi khai thác trong 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 243.015 ster, tăng 0,1% (+161 ster) so với cùng kỳ; lượng củi khai thác chủ yếu là các cành cây tận dụng từ nguồn khai thác gỗ, như: Bạch đàn, keo.
Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 01 vụ cháy rừng, bằng cùng kỳ năm trước; diện tích bị cháy là 10 ha, tăng gần gấp 4 lần (+7,3 ha) so cùng kỳ; xảy ra 21 vụ, tăng 10 vụ so cùng kỳ và diện tích bị phá 6,5 ha, tăng 1,5 ha so cùng kỳ.
6.3. Thủy sản
Tổng sản lượng thủy sản tháng 6 năm 2024 ước đạt 29.849,3 tấn, tăng 2,9% (+847,4 tấn) so cùng kỳ; cộng dồn 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 146.445,2 tấn, tăng 2,9% (+4.161,2 tấn) so với cùng kỳ.
Sản lượng khai thác ước đạt 139.865,5 tấn, tăng 2,9% (+3.978,7 tấn); Sản lượng khai thác thủy sản biển ước đạt 138.340,7 tấn, tăng 2,9% (+3.932,8 tấn), riêng khai thác cá ngừ đại dương sản lượng đạt 7.537 tấn, tăng 2,7% (+195,4 tấn).
Sản lượng nuôi trồng ước đạt 6.579,7 tấn, tăng 2,9% (+182,4 tấn), riêng tôm thẻ chân trắng ước đạt 4.263,3 tấn, tăng 0,7% (+28,1 tấn).
7. Sản xuất công nghiệp
7.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)
So với tháng trước, Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 6 năm 2024 tăng  0,91%. Trong đó, ngành Công nghiệp khai khoáng tăng 0,08%; Công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,08%; Công nghiệp sản xuất và phân phối điện tăng 14%; Hoạt động cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng 6,93%.
So với cùng kỳ, Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 6 năm 2024 tăng 12,13%. Trong đó, ngành Công nghiệp khai khoáng tăng 7,59%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,95%; Sản xuất và phân phối điện giảm 6,28%; Hoạt động cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 12,37%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,65% so với cùng kỳ, trong đó:
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp khai khoáng tăng 14,35%. Khai thác quặng kim loại giảm 39,32%, do nguồn nguyên liệu cạn kiệt, một số doanh nghiệp ngừng hoạt động chuyển sang đầu tư ở lĩnh vực khác đã tác động trực tiếp đến ngành khai thác quặng và tiếp tục có xu xướng giảm trong thời gian tới. Hoạt động khai khoáng khác tăng cao 22,49% do hoạt động khai khoáng đất, đá phục vụ công trình cao tốc Bắc- Nam tăng cao; công trình lớn khác cũng đang được đẩy nhanh tiến độ.
Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,64%. Trong đó, nhóm ngành tăng cao như: Chế biến thực phẩm; Sản xuất trang phục; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế.
Chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện giảm 2,64%. Trong đó, điện sản xuất giảm 11,97% do thủy điện chiếm cơ cấu lớn 60% nhưng sản lượng giảm mạnh (do ít mưa, các hồ cha tập trung tích nước phục vụ sản xuất nông nghiệp). Chiều ngược lại, nắng nóng nền nhiệt cao tạo thuận lợi cho các nhà máy điện năng lượng mặt trời hoạt động, sản lượng tăng cao; tuy nhiên, do chiếm cơ cấu chỉ 40% nên tổng chung điện sản xuất giảm so cùng kỳ. Thời tiết nắng nóng người dân sử dụng thiết bị điều hòa tăng mạnh và các doanh nghiệp tăng sản xuất nên lượng điện tiêu thụ điện cao, do đó điện thương phẩm tăng 27,06%.
Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,85%. Trong đó, khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 8,4%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 9,67%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 15,85% do UBND tỉnh bổ sung kinh phí để tăng tần suất và mở rộng phạm vi thu gom trên địa bàn tỉnh.
7.2. Chỉ số tiêu thụ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Chỉ số tiêu thụ sản phẩm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2024 giảm 3,22% so với tháng trước do nhiều ngành chiếm tỷ trọng lớn có lượng tiêu thụ giảm trong tháng 6 như: Sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 5,86%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 24,21%; Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 3%. Một số ít ngành có chỉ số tiêu thụ tăng như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 19,78%; Chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 12,49% (do có đơn hàng tiêu thụ cao trong tháng 6/2024).
Chỉ số tiêu thụ sản phẩm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2024 tăng 15,97% so với cùng kỳ. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2024, chỉ số tiêu thụ tăng 9,59% so cùng kỳ do một số nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn có sự phục hồi và tăng trưởng mạnh như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 9,38%; Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 17%; Sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 40,7%.
7.3. Chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
Lượng hàng tồn kho của các doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2024 tương đối giữ ổn định so với tháng trước, tăng 1,26%. Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm như: Sản xuất trang phục giảm 7,89%; Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ giảm 3,74%; Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 3,71%. Còn lại số ít ngành có chỉ số tồn kho cao so với tháng trước như: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 18,92%; Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 45,54%.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2024 tăng 10,39% so với cùng kỳ. Trong đó, nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn tăng cao tác động làm chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao, như: Sản xuất chế biến thực phẩm tăng 30,64% (tôm đông lạnh và nhóm thức ăn chăn nuôi tồn kho cao); Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 78,96%; Chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ tăng 18,73%; Sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 36,96%.
7.4. Chỉ số sử dụng lao động
Chỉ số sử dụng lao động tháng 6/2024 giảm 0,82% so với tháng trước do  ngành Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế đang vào cuối mùa sản xuất. Trong đó, ngành Khai khoáng tăng 1,22%; Công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,92%, chủ yếu do ngành Dệt giảm 4,81%, Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 2,57%; Hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,55%; lao động ngành Sản xuất và phân phối điện, khí đốt giữ nguyên.
Tình hình sản xuất một số ngành lớn khởi sắc, do đó chỉ số sử dụng lao động tháng 6/2024 tăng 8,3% so cùng kỳ: Ngành khai khoáng tăng 0,17%; Công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,99%; Sản xuất và phân phối điện, khí đốt tăng 1,94%; Cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,74%.
8. Thương mại, dịch vụ
8.1. Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
6 tháng đầu năm 2024, tỉnh Bình Định đã chỉ đạo thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp kích thích tiêu dùng nội địa, kích cầu du lịch, dịch vụ, đặc biệt là tổ chức thành công các chương trình, sự kiện văn hóa – thể thao – du lịch lớn. Chỉ đạo đẩy mạnh truyền thông, xúc tiến, mở rộng thị trường du lịch, trong đó chú trọng phát triển thị trường du lịch nội địa, tăng cường quảng bá du lịch tại thị trường quốc tế gắn với nâng cao chất lượng dịch vụ, cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 58.336,7 tỷ đồng, tăng 14,6% so với cùng kỳ.
Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2024 ước tính đạt 44.897,7 tỷ đồng, chiếm 77% tổng mức và tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 6 tháng đầu năm 2024 ước tính đạt 8.304,7 tỷ đồng, chiếm 14,2% tổng mức, tăng 29,1% so với cùng kỳ (quý I đạt 3.427,7 tỷ đồng, tăng 16,6%, quý II đạt 4.876,9 tỷ đồng, tăng 39,6%), bao gồm: Doanh thu dịch vụ lưu trú đạt 1.354,7 tỷ đồng, tăng 29,1%; doanh thu dịch vụ ăn uống đạt 6.950 tỷ đồng, tăng 26,2%.
Doanh thu dịch vụ lữ hành 6 tháng đầu năm 2024 ước tính đạt 431,1 tỷ đồng, chiếm 0,7% tổng mức, tăng 54,1% so với cùng kỳ.
Doanh thu hoạt động dịch vụ khác 6 tháng đầu năm 2024 ước tính đạt 4.703,2 tỷ đồng, chiếm 8,1% tổng mức, tăng 22% so với cùng kỳ.
8.2. Xuất, nhập khẩu hàng hóa
a. Xuất khẩu hàng hóa
Điểm sáng trong bức tranh kinh tế 6 tháng 2024 của tỉnh là xuất siêu đạt 679,5 triệu USD, phản ánh vai trò và vị thế của kinh tế tỉnh Bình Định trong hoạt động thương mại quốc tế.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước đạt 887 triệu USD, tăng 20,9% so cùng kỳ; trong đó: Kinh tế Nhà nước ước đạt 28,2 triệu USD, tăng 3,2%, chiếm 3,2%; Kinh tế tư nhân ước đạt 713,5 triệu USD, tăng 19,2%, chiếm 80,4%; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ước đạt 145,3 triệu USD, tăng 34,8%, chiếm 16,4% so cùng kỳ. Sáu tháng đầu năm 2024, tình hình xuất khẩu của các doanh nghiệp tăng khá so cùng kỳ; tăng mạnh nhất là sản phẩm bàn ghế nhựa giả mây do nhu cầu tiêu dùng bàn ghế nhựa giả mây ở các thị trường xuất khẩu tăng mạnh vì sản phẩm phù hợp với thị hiếu và giá cả hợp lý (tăng 49,1%);  sản phẩm gỗ tăng do nhu cầu nhập khẩu dăm gỗ và viên nén gỗ của thị trường Trung Quốc và Nhật Bản tăng mạnh (tăng 36,5%); bàn ghế gỗ chủ yếu là đồ gỗ nội thất, ngoại thất, sân vườn (tăng 20,3%)...
Xuất khẩu trực tiếp 6 tháng đầu năm 2024 ước đạt 880,4 triệu USD, chiếm 99,3% kim ngạch xuất khẩu. Các mặt hàng được xuất khẩu đến 96 quốc gia và vùng lãnh thổ thuộc 5 châu lục. Trong đó, Châu Á đạt 325,4 triệu USD, chiếm 37,0%; Châu Âu đạt 196 triệu USD, chiếm 22,2%; Châu Mỹ đạt 339,3 triệu USD, chiếm 38,5%.
b. Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 6/2024 ước đạt 47 triệu USD, tăng 28,4% so với tháng trước và tăng 8,9% so cùng kỳ.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước đạt 207,5 triệu USD, giảm 2,5% so cùng kỳ; trong đó: Khu vực kinh tế tư nhân ước đạt 145,3 triệu USD, giảm 14,6% so cùng kỳ, chiếm 70% kim ngạch nhập khẩu; Khu vực kinh tế đầu tư nước ngoài ước đạt 62,2 triệu USD, tăng 45,8% so cùng kỳ, chiếm 30% kim ngạch nhập khẩu, chủ yếu nhập máy móc thiết bị để sản xuất.
8.3. Vận tải hành khách và hàng hóa
a. Vận tải hành khách
Tổng lượng vận chuyển hành khách bằng đường bộ và đường thuỷ tháng 6/2024 ước đạt 4.290,3 nghìn hành khách, luân chuyển 444,2 triệu HK.km. So với tháng trước, vận chuyển tăng 4,1%, luân chuyển tăng 4,4%. So cùng kỳ, vận chuyển tăng 17,9%, luân chuyển tăng 27%.
Sáu tháng đầu năm 2024, tổng lượng vận chuyển hành khách bằng đường bộ và đường thuỷ ước đạt 23.787,5 nghìn hành khách, luân chuyển 2.433,3 triệu HK.km. So cùng kỳ, vận chuyển tăng 19,9%, luân chuyển tăng 24,5%.
b. Vận tải hàng hóa
Tổng lượng vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ và đường thuỷ tháng 6/2024 ước đạt 3.178,4 nghìn tấn, luân chuyển 432,6 triệu tấn.km. So tháng trước, vận chuyển tăng 6,8%, luân chuyển tăng 6,1%. So cùng kỳ, vận chuyển tăng 12,8%, luân chuyển tăng 10,1%.
Sáu tháng đầu năm 2024, tổng lượng vận chuyển hàng hóa bằng đường bộ và đường thuỷ ước đạt 16.884,6 nghìn tấn, luân chuyển 2.347,4 triệu tấn.km; so cùng kỳ, vận chuyển tăng 4,4%, luân chuyển tăng 3,2%.
Hàng hoá thông qua cảng biển tại địa phương trong tháng 6 năm 2024 ước đạt 1.413 nghìn TTQ, tăng 1,2% so với tháng trước, tăng 36,6% so với cùng kỳ.
Sáu tháng đầu năm 2024, ước đạt 7.596,1 nghìn TTQ, tăng 42,0% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các mặt hàng thông qua cảng đều tăng, đặc biệt các mặt hàng xuất khẩu chiếm tỷ trọng cao trong tổng sản lượng thông qua cảng, như: Dăm gỗ, viên nén, đồ gỗ, hàng nội địa thức ăn gia súc…góp phần vào sự tăng trưởng ấn tượng sản lượng hàng thông qua cảng.
c. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải
Sáu tháng đầu năm 2024, tổng doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, đường thủy và bưu chính, chuyển phát ước đạt 5.884,1 tỷ đồng, tăng 13% so cùng kỳ. Trong đó, vận tải hành khách đạt 1.142,8 tỷ đồng, tăng 32,7%, chiếm 19,4% so với tổng doanh thu; vận tải hàng hóa đạt 2.895,8 tỷ đồng, tăng 5,6%, chiếm tỷ trọng cao nhất 49,2%; Dịch vụ hỗ trợ vận tải đạt 1.830,2 tỷ đồng, tăng 15,2%, chiếm 31,1%; Doanh thu bưu chính, chuyển phát đạt 15,3 tỷ đồng, tăng 12,8%, chiếm tỷ trọng thấp nhất 0,3% trong tổng doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải; bưu chính chuyển phát.
9. Các vấn đề xã hội
9.1. Tình hình lao động việc làm
a. Lực lượng lao động và thất nghiệp
  So với quý trước, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên có xu hướng tăng, tỷ lệ thất nghiệp không thay đổi.
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên quý II năm 2024 là 849.471 người, tăng hơn 4.738 người so với quý trước. So với quý trước, lực lượng lao động ở cả hai khu vực thành thị và nông thôn đều tăng tương ứng (2.819 người và 1.919 người), lực lượng lao động nam và nữ tăng tương ứng (3.232 lao động nam và 1.506 lao động nữ). Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt 847.102 người. Lực lượng lao động ở khu vực thành thị là 325.703 người, chiếm 38,4%; lực lượng lao động nữ 411.960 người, chiếm 48,6% lực lượng lao động của tỉnh.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động so với dân số quý II năm 2024 là 56,4% tăng 0,3 điểm phần trăm so với quý trước. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nam là 58,3% và tỷ lệ này của nữ là 54,5%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 52,7%, trong khi đó tỷ lệ này ở nông thôn là 59,0%.
Ước tính tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi quý II năm 2024 toàn tỉnh là 1,96%, không thay đổi so với quý trước.
b. Lao động có việc làm
So với quý trước, tình hình lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm tiếp tục tăng do lao động khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ tiếp tục phục hồi.
Lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm quý II năm 2024 ước đạt 840.135 người, tăng 4.686 người so với quý trước. Lao động khu vực nông thôn 516.878 người, chiếm 61,5%, khu vực thành thị 323.257 người, chiếm 38,5%.
- Ước tính tỷ lệ thiếu việc làm của lực lượng lao động trong độ tuổi quý II năm 2024 toàn tỉnh là 1,72%, giảm 0,01 điểm phần trăm so với quý trước.
9.2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội
a. Đời sống cán bộ, công nhân viên chức, người lao động hưởng lương
Ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã triển khai quyết liệt, đồng bộ và có hiệu quả các Nghị quyết của Trung ương, tập trung tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, kích cầu du lịch, hỗ trợ chính sách, giải pháp cho vay, tạo việc làm,…góp phần đảm bảo an sinh xã hội, ổn định đời sống nhân dân và hộ đồng bào dân tộc thiểu số vùng khó khăn, giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh.
b. Giải quyết việc làm, hỗ trợ lao động thất nghiệp
Cho vay giải quyết việc làm: Đã phê duyệt 7.022 dự án với tổng số tiền cho vay là 387 tỷ đồng; Hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm cho gần 8.000 lao động.
Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh Bình Định tổ chức 5 phiên giao dịch việc làm tại sàn giao dịch Quy Nhơn và các điểm giao dịch vệ tinh; 61 phiên giao dịch việc làm lưu động với 372 lượt doanh nghiệp và 3.935 lượt người tham gia. Hệ thống dịch vụ việc làm của tỉnh tổ chức tư vấn giới thiệu việc làm và học nghề cho 17.276 lượt người; cung ứng và giới thiệu việc làm cho 2.100 người.
Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh đã phối hợp với Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh và doanh nghiệp tổ chức buổi tuyên truyền, tư vấn về đào tạo nghề, giới thiệu việc làm trong nước và ngoài nước cho 1.268 quân nhân là người Bình Định hoàn thành nghĩa vụ quân sự được xuất ngũ về địa phương năm 2024 tại các tỉnh Tây Nguyên và trong tỉnh. Trong quý II năm 2024, có 245 lao động của tỉnh đi làm việc tại nước ngoài (Nhật Bản 221 người, Đài Loan 15 người, các nước khác 9 người). Trong quý II năm 2024, tạo việc làm cho 11.544 người. Tính chung 6 tháng năm 2024, đã tạo việc làm cho 21.714 người, đạt 66,8% kế hoạch.
c.  Công tác giảm nghèo, bảo trợ xã hội, chính sách với người có công
Chính sách người có công hàng tháng đã giải quyết chế độ cho người có công và thân nhân người có công với số tiền 195.325 triệu đồng.
Công tác bảo trợ xã hội thực hiện đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng, công khai, minh bạch. Trong quý đã thực hiện trợ giúp cho đối tượng bảo trợ xã hội và hộ gia đình hàng tháng với tổng số tiền 197.650 triệu đồng. Thăm, tặng quà 08 cơ sở trợ giúp xã hội nhân ngày Công tác xã hội Việt Nam 25/3 với số tiền 16 triệu đồng;
Công tác giảm nghèo được triển khai có hiệu quả các chính sách, dự án hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh góp phần cải thiện đời sống, tăng thu nhập để hộ nghèo, hộ cận nghèo từng bước vương lên thoát nghèo trong năm 2024. Thực hiện hỗ trợ tiền điện quý II cho 16.300 hộ nghèo, hộ cận nghèo với tổng số tiền 3.373 triệu đồng. Tính chung 6 tháng năm 2024, đã thực hiện hỗ trợ tiền điện với tổng số tiền hơn 6 tỷ đồng.
Tính đến 18/6/2024 ngành Bảo hiểm xã hội tỉnh đã cấp 303.596 thẻ bảo hiển y tế miễn phí cho các đối tượng. Trong đó: Cấp cho trẻ em dưới 6 tuổi 140.371 thẻ, cấp cho người hưởng trợ cấp bảo trợ hàng tháng 76.787 thẻ, cấp cho người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo 57.396 thẻ, cấp cho đồng bào thiểu số, người sống trong vùng kinh tế khó khăn, xã đảo 29.042 thẻ. So với quý I năm 2024, số thẻ bảo hiểm y tế hiện tại giảm 1.316 thẻ chủ yếu là do đối tượng trẻ em đã qua 72 tháng tuổi nhiều nên số lượng thẻ giảm 1.611 thẻ, đối tượng được hưởng trợ cấp hàng tháng tăng 366 thẻ, các đối tượng khác giảm 71 thẻ.
Tổng số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội ước đến hết ngày 30/6/2024 là 150.651 người (trong đó, BHXH bắt buộc là 133.380 người, BHXH tự nguyện là 17.271 người), tăng 3.143 người so với cùng kỳ năm 2023 (trong đó, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc tăng 2.692 người; đối tượng tham gia BHXH tự nguyện tăng 451 người), giảm 2.316 người so với cuối năm 2023 (trong đó, đối tượng tham gia BHXH bắt buộc giảm 1.494 người; đối tượng tham gia BHXH tự nguyện giảm 822 người), đạt 96,3% so với kế hoạch năm 2024, chiếm tỷ lệ 18,6% lực lượng lao động trong độ tuổi.
9.3. Giáo dục
Trong quý II, các trường mầm non, phổ thông trên địa bàn tỉnh Bình Định đã tổ chức tổng kết năm học 2023-2024. Ngành Giáo dục đã hoàn thành biên soạn tài liệu giáo dục địa phương lớp 5, lớp 9 và lớp 12; Tổ chức thành công các kỳ thi Giáo viên dạy giỏi mầm non, Giáo viên chủ nhiệm lớp giỏi cấp THPT năm học 2023-2024, tuyển chọn học sinh giỏi lớp 9, lớp 11 năm học 2023-2024; Hoàn thành việc thi tuyển dụng viên chức vào làm việc tại các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc; Tổ chức thành công kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 năm học 2024-2025 và triển khai công tác chuẩn bị kỳ thi tốt nghiệp Trung học phổ thông năm 2024, công tác tuyển sinh vào lớp 1, lớp 6.
9.4. Y tế
Ngành Y tế đã duy trì tốt hoạt động kiểm tra, giám sát dịch tễ, và quản lý đối tượng có nguy cơ. Chủ động trong việc phòng và chống dịch nên các ổ dịch và ca mắc bệnh được phát hiện sớm, xử trí kịp thời và không lây lan trên diện rộng. Các hoạt động kiểm soát và phòng, chống một số bệnh xã hội (lao, tâm thần, HIV/AIDS), một số bệnh không lây nhiễm (tim mạch, tăng huyết áp, ung thư, đái tháo đường, rối loạn thiếu iốt), bệnh nghề nghiệp, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính,.. được ngành Y tế phối hợp với các địa phương, đơn vị liên quan triển khai thực hiện đúng tiến độ, đạt yêu cầu đề ra. Tuy nhiên, số ca dịch bệnh sốt xuất huyết và dịch tay chân miệng trong quý II năm 2024 vẫn còn ở mức cao: Dịch sốt xuất huyết 681 ca, dịch tay chân miệng 128 ca, bệnh SPB nghi sởi/sởi/rubella 14 ca, 02 ca viêm phổi nặng do virus, sốt rét 0 ca, bệnh dại chưa ghi nhận. Không có trường hợp tử vong do dịch bệnh.
Trong quý II năm 2024, toàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm tập thể và không có tử vong do ngộ độc thực phẩm.
9.5. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch
Trong 6 tháng đầu 2024, nhiều hoạt động văn hóa, thể dục và thể thao trên địa bàn tỉnh Bình Định diễn ra rất sôi nổi. UBND Tỉnh tỉnh đã tổ chức thành công các sự kiện mang tầm quốc tế như: Tuần lễ Thể thao, Văn hóa và Du lịch Bình Định 2024 với điểm nhấn là các giải đua tuyền UIM - ABP Aquabike World Championship và UIM F1H2O World Championship Grand Prix of Binh Dinh, Giải thi đấu Teqball thế giới năm 2024... với nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, hấp dẫn, thu hút được đông đảo du khách trong nước và quốc tế. Các sự kiện nổi bật mở đầu chuỗi sự kiện du lịch hè năm 2024 như Giải Teqball Quốc tế từ ngày 05/6 - 10/6/2024 với trên 115 vận động viên và cùng hàng trăm người hâm mộ thể thao và người thân của 52 quốc gia đến tham dự; Chương trình khai mạc du lịch hè vào tối ngày 08/6/2024 với sự tham gia nhiều ca sỹ nổi tiếng và lần đầu tiên tỉnh Bình Định tổ chức bắn pháo hoa tầm cao; Liên hoan Diều Quy Nhơn - Bình Định diễn ra từ ngày 7 – 9/6, tại khu vực bãi biển Quy Nhơn, Quảng trường Nguyễn Tất Thành (ngày 7 – 8/6) và xã Nhơn Hải (ngày 9/6); Hoạt động văn hóa ẩm thực Bình Định diễn ra từ ngày 6 - 9/6/2024, tại Bãi biển Xuân Diệu Tp. Quy Nhơn với sự tham gia của gần 20 gian hàng (ẩm thực và sản phẩm OCOP) với nhiều món ngon, đặc trưng và phong phú, đa dạng mang đậm nét văn hoá ẩm thực Bình Định; Giải chạy VnExpress Marathon Quy Nhơn 2024 vào ngày 21/6 - 23/6/2024 với sự tham gia của trên 8.000 vận động viên và gần 30.000 người hâm mộ của nhiều tỉnh thành về tham dự.
9.6. Tai nạn giao thông
Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 255 vụ tai nạn giao thông (quý I xảy ra 141 vụ; quý II xảy ra 114 vụ), làm 100 người chết (quý I chết 45 người; quý II chết 55 người) và 214 người bị thương (quý I bị thương 137 người; quý II bị thương 77 người). So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 6 tháng đầu năm 2024 tăng 40,9% (+74 vụ), số người chết giảm 19,4% (-24 người) và số người bị thương tăng 122,9% (+118 người). Bình quân 1 tháng trong 6 tháng đầu năm 2024, trên địa bàn tỉnh xảy ra 43 vụ tai nạn giao thông, làm 17 người chết và 36 người bị thương.
9.7. Tình hình vi phạm môi trường
Sáu tháng đầu năm 2024, đã phát hiện 26 vụ vi phạm môi trường, giảm 13,3% (- 04 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 26 vụ, giảm 10,3% (- 03 vụ) so với cùng kỳ năm trước; đã xử phạt 468,4 triệu đồng, giảm 18,9% (- 108,9 triệu đồng).
9.8. Thiệt hại do thiên tai
Trong tháng, trên địa bàn tỉnh Bình Định thời tiết thuận lợi không xảy ra thiệt hại thiên tai, bằng tháng trước, bằng cùng kỳ năm trước. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2024, trên địa bàn tỉnh Bình Định xảy ra 01 vụ thiên tai, ước thiệt hại 50,2 triệu đồng.
10. Kết luận – Kiến nghị
Với kết quả tăng trưởng kinh tế của 6 tháng đầu năm nay, để tốc độ tăng GRDP cả năm đạt 7,5%-8% trở lên, đòi hỏi tốc độ tăng GRDP của 6 tháng cuối năm còn lại trong năm phải đạt 7,42 – 8,4%. Để thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu nhiệm vụ và kế hoạch năm 2024 đã đề ra; Cục Thống kê Bình Định đề xuất triển khai thực hiện có hiệu quả một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau đây:
1. Sản xuất công nghiệp và xây dựng
Tăng cường việc gặp gỡ, đối thoại doanh nghiệp, nhằm đồng hành, lắng nghe, trao đổi, hỗ trợ các doanh nghiệp, nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh, kịp thời giải quyết tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp. Đẩy mạnh thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuất công nghiệp. Tập trung cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh; tạo môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn, trọng tâm là các dự án chế biến gia súc, gia cầm, thủy sản, rau, hoa,... Hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhà đầu tư triển khai nhanh các dự án tại Khu Công nghiệp, Đô thị và Dịch vụ Becamex VSIP Bình Định; Khu đô thị Khoa học và Giáo dục Quy Hòa, Trung tâm Khám phá khoa học; các dự án năng lượng tái tạo, công nghiệp, du lịch tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh...
Tăng cường thực hiện công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch; quản lý đô thị, trật tự và chất lượng xây dựng, nhất là các công trình thuộc lĩnh vực hạ tầng giao thông, thủy lợi; triển khai các giải pháp quản lý cụ thể, hiệu quả để tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản; hỗ trợ đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án nhà ở xã hội trên địa bàn tỉnh.
Đẩy nhanh tiến độ GPMB và triển khai xây dựng các công trình trọng điểm và các công trình, dự án ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh như: Đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, đoạn qua tỉnh Bình Định; các hạng mục thuộc tuyến đường ven biển; các tuyến đường kết nối từ Quốc lộ 1A đến tuyến đường ven biển; xây dựng đập dâng Phú Phong; các dự án đầu tư phát triển đô thị, thương mại, dịch vụ, du lịch trên địa bàn tỉnh, nhất là tại Khu kinh tế Nhơn Hội, khu vực ven đầm Thị Nại và trong nội thành Quy Nhơn..
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản
Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp; thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, mùa vụ; tăng cường công tác quản lý, sử dụng tiết kiệm nguồn nước. Phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, quy mô lớn gắn với thu hút đầu tư các Nhà máy chế biến súc sản, gia cầm để nâng cao giá trị sản xuất; quan tâm chú trọng công tác tiêm phòng vắc xin và phòng, chống dịch bệnh. Phát triển trồng rừng gỗ lớn trên địa bàn tỉnh, gắn chứng chỉ FSC để phục vụ xuất khẩu; nghiên cứu, đề xuất Đề án kinh doanh tín chỉ carbon rừng. Thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với thực hiện có hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, đảm bảo số xã đạt chuẩn nông thôn mới theo kế hoạch; thúc đẩy thực hiện Chương trình mỗi xã một sản phẩm (Chương trình OCOP) tăng cường công tác quản lý đất đai, tài nguyên khoáng sản, bảo vệ rừng, phòng, chống cháy rừng trong điều kiện nắng nóng kéo dài. Triển khai khắc phục cảnh báo của Ủy ban Châu Âu về khai thác bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định (IUU) gắn với tăng cường thực hiện các chính sách hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ. Thực hiện nghiêm túc công tác bảo vệ môi trường; công tác thu gom, xử lý rác thải tại đô thị và nông thôn phải kịp thời, phù hợp, đảm bảo môi trường theo quy định.
3. Về thương mại, dịch vụ, tài chính
Tiếp tục phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ và du lịch; đẩy mạnh triển khai chương trình kích cầu, thu hút du lịch dịp cao điểm du lịch Hè 2024; nghiên cứu Đề án phát triển kinh tế ban đêm. Đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng đang có thị trường và lợi thế cạnh tranh; tích cực phát triển các mặt hàng xuất khẩu mới. Tăng cường các biện pháp tăng thu, chống thất thu ngân sách. Thực hành tiết kiệm chi ngân sách; chống lãng phí trong sử dụng kinh phí đầu tư xây dựng cơ bản, chi hành chính và các lĩnh vực khác.
4. Văn hóa xã hội
Tiếp tục triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm. Chú trọng chất lượng khám chữa bệnh và y đức ngành y tế; thực hiện tốt công tác y tế dự phòng, chủ động phòng, chống các dịch bệnh nguy hiểm đối với người; củng cố mạng lưới y tế cơ sở, giảm thiểu tình trạng quá tải ở các bệnh viện công lập. Tập trung chuẩn bị tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2024, tuyển sinh vào các lớp đầu cấp năm học 2024-2025; tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị cho ngành giáo dục, nâng cao chất lượng dạy và học.
Tập trung triển khai kế hoạch chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ thông tin trên địa bàn tỉnh đồng bộ, hiệu quả. Tiếp tục tuyên truyền, phục vụ các nhiệm vụ chính trị và tổ chức các hoạt động chào mừng nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm 2024; nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, thông tin, truyền thông, phát thanh - truyền hình, thể dục thể thao; tăng cường công tác quản lý nhà nước về văn hóa và dịch vụ văn hóa trên địa bàn tỉnh. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất và đời sống.
Tiếp tục thực hiện các Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là giải ngân các nguồn vốn thực hiện Chương trình đảm bảo kế hoạch đề ra; chú trọng công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm và xuất khẩu lao động, đảm bảo an toàn lao động. Thực hiện tốt công tác bảo trợ xã hội, các chính sách ưu đãi đối với người có công với nước, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em, người già neo đơn, người tàn tật, các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn./.
 
[1] Tốc độ tăng GRDP 6 tháng đầu năm các năm 2019-2023 lần lượt là: tăng 5,9%; tăng 2,17%; tăng 7,09%; tăng 7,42%; tăng 6,46%.

Tác giả bài viết: Phạm Thị Chung Thủy

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

Số:1100/QĐ-CTK

Quyết định về việc ban hành Lịch phổ biến thông tin thống kê năm 2024

lượt xem: 409 | lượt tải:84

Số:189 /KH-UBND

KH-Triển khai thực hiện Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã

lượt xem: 386 | lượt tải:171

Số: 4072/QĐ-UBND

Quyết định thực hiện Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã

lượt xem: 349 | lượt tải:99

Số: 1082/QĐ-CTK

Quyết định về việc ban hành Lịch phổ biến thông tin thống kê năm 2023

lượt xem: 220 | lượt tải:44

Số: 879/QĐ-TCTK

Quyết định ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược phát triển Thống kê Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045

lượt xem: 1128 | lượt tải:270
Thống kê truy cập
  • Đang truy cập109
  • Hôm nay6,598
  • Tháng hiện tại411,586
  • Tổng lượt truy cập45,958,261
Liên kết Web
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây