TRANG CHỦ    TIN TỨC - SỰ KIỆN    Thông tin kinh tế - xã hội
  TRANG CHỦ
  GIỚI THIỆU
  TIN TỨC - SỰ KIỆN
  PHÂN TÍCH THỐNG KÊ
  SỐ LIỆU THỐNG KÊ
  ẤN PHẨM THỐNG KÊ
  VĂN BẢN PHÁP LUẬT
  HỎI ĐÁP
  LỊCH CÔNG TÁC
  CHẾ ĐỘ BÁO CÁO
  HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ M
  Thống kê người dùng
  Đang online:
39
  Số lượt truy cập:
1116275
Tổng cục thống kê
Tin nổi bật trong ngành
chi dao điều hanh cua tinh
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sở Công thương
Sở Kế hoạch và Đầu tư
Báo cáo Tổng cục Thống kê
Mail.gso
Đề án GRDP
Phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng xã hội phản ánh quá trình phân chia xã hội thành các nhóm xã hội có điều kiện kinh tế khác biệt nhau. Phân hóa giàu nghèo là phân tầng xã hội về mặt kinh tế, thể hiện trong xã hội có nhóm giàu tầng cao, nhóm nghèo tầng thấp; phân hoá giàu nghèo gắn liền với bất bình đẳng xã hội và phân công lao động, là sự phân cực về kinh tế. Giữa nhóm giàu và nhóm nghèo là khoảng cách về thu nhập và mức sống.

Qua số liệu Khảo sát mức sống cho thấy thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng, khẳng định công cuộc giảm nghèo của Đảng và Nhà nước nói chung và Chính quyền địa phương các cấp, trên địa bàn tỉnh nói riêng đạt những thành tựu đáng ghi nhận, đã nâng cao mức sống dân cư. Năm 2016 thu nhập bình quân đầu người đạt 2.595,6 nghìn đồng/người/tháng tăng khoảng 2,3 lần (tăng trên 1.446 nghìn đồng/người/tháng) so với năm 2010. Tuy nhiên, so với một số tỉnh và cả nước vẫn còn thấp.

Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng chia theo khu vực

      Đơn vị tính: 1.000 đồng

 

Năm 2010

Năm 2012

Năm 2014

Năm 2016

Chung toàn tỉnh

1.149,6

1.719,0

2.346,0

2.595,6

Trong đó:

 

 

 

 

 - Thành thị

1.560,4

2.326,6

3.073,2

3.734,1

 - Nông thôn

984,8

1.529,6

2.044,6

2.110,1

Chênh lệch TT/NT (lần)

1,5

1,5

1,5

1,7

Chênh lệch tuyệt đối (1000 đồng)

575,6

797,0

1.028,6

1.624,0

 

Mặc dù thu nhập của mọi tầng lớp dân cư, các khu vực đều tăng lên, nhưng diễn ra theo tốc độ khác nhau. Điều này đã dẫn đến sự gia tăng chênh lệch giàu nghèo trong từng khu vực thành thị, nông thôn hoặc giữa các khu vực cũng khác nhau. Cụ thể nếu năm 2010, chênh lệch thu nhập bình quân giữa khu vực thành thị và khu vực nông thôn là 1,5 lần (tương đương 575 nghìn đồng) thì đến năm 2016 là 1,7 lần, tức chênh lệch thu nhập bình quân 1 người/ 1 tháng là 1.624 nghìn đồng, tăng 1.049 nghìn đồng 1 người/ 1 tháng. Như vậy, khoảng cách chênh lệch thu nhập bình quân giữa các khu vực, còn ở mức cao.

Để tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc nhóm hộ gia đình trong một thời gian nhất định, chia dân số thành 5 nhóm, mỗi nhóm có 20% dân số, sau đó xếp theo thứ tự từ thấp đến cao về thu nhập, và so sánh thu nhập của nhóm cao nhất và nhóm thấp nhất để xem xét mức độ phân hóa giàu - nghèo, bất bình đẳng, tức cân bằng xã hội.

Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng chia theo 5 nhóm thu nhập và chênh lệch thu nhập bình quân giữa nhóm 5 và nhóm 1

    Đơn vị tính: 1.000 đồng

 

Năm 2010

Năm 2012

Năm 2014

Năm 2016

Chung toàn tỉnh

1.149,6

1.719,0

2.346,0

2.595,6

Nhóm 1

402,0

549,3

781,8

872,2

Nhóm 2

658,6

1.051,7

1.423,0

1.488,6

Nhóm 3

887,7

1.431,4

1.885,4

2.086,5

Nhóm 4

1.223,2

1.979,8

2.531,9

2.863,4

Nhóm 5

2.573,5

3.578,4

5.098,5

5.686,8

Chênh lệch thu nhập giữa nhóm 5 và nhóm 1 (lần)

6,4

6,5

6,5

6,5

 

Chênh lệch thu nhập bình quân giữa nhóm có thu nhập cao nhất (nhóm 5) và  nhóm có thu nhập thấp nhất (nhóm 1) lớn và không doãn ra (năm 2010 là 6,4 lần, đến năm 2016 là 6,5 lần). Khoảng cách giữa nhóm thu nhập cao và nhóm thu nhập thấp có sự cách biệt.

Chênh lệch thu nhập giữa nhóm giàu nhất so với nhóm nghèo nhất  (nhóm 5 và nhóm 1) của các nhóm hộ ở trong từng khu vực cũng như giữa khu vực thành thị và nông thôn ngày càng gia tăng. Qua đó cho thấy, mức độ phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng trong phân phối thu nhập đã diễn ra, trong nhóm hộ giàu và hộ nghèo, hoặc giữa các khu vực. Điều này chứng tỏ, nhóm hộ có thu nhập cao càng có nhiều điều kiện thuận lợi (vốn, điều kiện SXKD…) để tạo ra thu nhập ngày càng cao hơn, ngược lại nhóm có thu nhập thấp còn nhiều hạn chế.

Để đánh giá, phân tích về công bằng hoặc sự bất bình đẳng, phân hóa giàu nghèo trong xã hội, ngoài phương pháp so sánh khoảng cách giữa nhóm hộ có thu nhập cao nhất (nhóm giàu) và nhóm hộ có thu nhập thấp nhất (nhóm nghèo), các tổ chức quốc tế và nhiều quốc gia đã sử dụng các thước đo khác, như:

+ Đường cong Lorenz:

Để biểu hiện mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập một cách trực quan, dễ nhận thấy, sử dụng đồ thị, gọi là đường cong Lorenz. Đường chéo biểu thị mức độ bình đẳng tuyệt đối trong phân phối thu nhập. Đường cong Lorenz càng gần đường bình đẳng tuyệt đối, phân phối càng công bằng.

Căn cứ vào kết quả thu nhập bình quân người/tháng chia theo 5 nhóm thu nhập, tính toán được tỷ lệ % cộng dồn thu nhập qua các năm, như sau: 

Tỷ lệ phần trăm cộng dồn thu nhập

                                                                                          Đơn vị tính: %

 

20%

40%

60%

80%

100%

Năm 2010

7,00

18,46

33,91

55,20

100,00

Năm 2012

6,39

18,64

35,30

58,35

100,00

Năm 2014

6,67

18,81

34,90

56,50

100,00

Năm 2016

6,71

18,16

34,22

56,25

100,00

 

Để đánh giá mức độ phân hóa giàu, nghèo, bất bình đẳng trên cơ sở tỷ lệ phần trăm cộng dồn thu nhập và cộng dồn dân số của các năm bằng  đường cong Lorenz của các năm, như sau:

Đồ thị : Đường cong Lorenz

- Hệ số Gini:

Là thước đo phổ biến để xác định mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, hệ số Gini được đưa ra nhằm lượng hoá đường cong Lorenz. Hệ số Gini càng cao, mức bất bình đẳng trong phân phối thu nhập càng lớn. Hệ số Gini nhận giá trị từ 0 đến 1, hệ số Gini bằng 0 nghĩa là không có sự bất bình đẳng, hệ số Gini càng tiến dần đến 1 thì sự bất bình đẳng càng lớn và bằng 1 khi có sự bất bình đẳng tuyệt đối.

Hệ số Gini qua các năm

 

Năm

2010

2012

 2014

2016

Chung toàn tỉnh

0,34

0,33

0,33

0,34

 

Mức độ phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập của tỉnh còn thấp, nhưng tăng qua các năm, có chiều hướng doãn ra. Tuy nhiên, sự bất bình đẳng về thu nhập, sự phân hoá giàu, nghèo của tỉnh Bình Định vẫn ở mức tương đối công bằng (từ 0,33 đến 0,34 là phân phối tương đối công bằng; từ 0,5 trở lên thì được coi là có mức độ bất bình đẳng cao).

Tiêu chuẩn 40% dân số thu nhập thấp: Để đánh giá bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của dân cư, theo Ngân hàng Thế giới (WB) nếu cộng thu nhập của 40% số hộ có mức thu nhập thấp nhất nhỏ hơn 12% so với tổng thu nhập của toàn bộ dân cư là có sự bất bình đẳng cao về thu nhập, ở mức từ 12% đến 17% là có sự bất bình đẳng vừa và nếu trên 17% được coi là tương đối bình đẳng.

Tỷ lệ cộng dồn thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp của các năm

 

Năm

2010

2012

 2014

 2016

Tỷ lệ cộng dồn thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp (%)

 

18,46

 

18,64

 

18,81

 

18,16

 

 Tỷ lệ cộng dồn thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp của tỉnh tương đối cao trên 17%. Tuy có chiều hướng giảm dần, năm 2010 tỷ lệ này chiếm 18,46%, đến năm 2016 chiếm 18,16% trong tổng thu nhập của dân cư. Nhưng so sánh với tiêu chuẩn 40% dân số thu nhập thấp, nghĩa là phân bố thu nhập của dân cư có sự tương đối bình đẳng.

Qua các tiêu chuẩn để đánh giá sự phân hoá giàu, nghèo, bất bình đẳng, cho thấy ở tỉnh Bình Định sự phân hóa giàu nghèo không lớn. Tuy nhiên, phân phối về thu nhập giữa người dân ở khu vực thành thị và người dân ở khu vực nông thôn đã diễn ra, có chiều hướng ngày càng tăng, chênh lệch về thu nhập, phân hoá giàu nghèo ở các khu vực khá rõ nét.

Như vậy, với tốc độ gia tăng khoảng cách giàu nghèo bình quân giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo trong từng khu vực, cũng như khoảng cách giàu nghèo giữa khu vực thành thị và nông thôn như hiện nay, nếu không có các chính sách điều chỉnh hợp lý thì tỉnh Bình Định sẽ nhanh chóng bước vào ngưỡng bất bình đẳng. Điều này không những sẽ gây ra sự bất lợi về tăng trưởng kinh tế mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển bền vững, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay.

Để thực hiện từng bước nâng cao thu nhập của người dân, thu hẹp khoảng khoảng cách giữa người giàu và người nghèo, nhằm ổn định và cải thiện đời sống của nhân dân, cần tập trung vào một số nhiệm vụ và giải pháp sau đây:

Một là, tích cực huy động các nguồn lực cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh, nhất là hạ tầng giao thông, thủy lợi, hạ tầng các khu, cụm công nghiệp. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo sự thông thoáng để thu hút các nhà đầu tư;

Hai là, phát triển nông, lâm, thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá, đạt năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, thân thiện với môi trường, xây dựng thương hiệu một số sản phẩm chủ lực của tỉnh, như cá ngừ đại dương, bò thịt, heo thịt, lúa giống, xây dựng các chuỗi phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với công nghiệp chế biến, thị trường tiêu thụ và xuất khẩu; đẩy mạnh phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại, tổ hợp tác, hợp tác xã nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới;

Ba là, chú trọng phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao, đặc biệt là gắn kết du lịch các làng nghề, các khu di tích lịch sử và du lịch biển tạo ra nhiều việc làm cho người dân;

Bốn là, phát triển hài hòa các vùng đô thị và nông thôn. Phát huy thế mạnh của từng vùng; tăng cường sự liên kết, phối hợp giữa các vùng để tạo động lực phát triển, từng bước giảm bớt chênh lệch về mức sống của dân cư giữa các vùng. Có chính sách hỗ trợ phát triển những vùng còn nhiều khó khăn như chuyển giao tiến bộ khoa học kỷ thuật, hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, giúp người dân khai thác tốt tiềm năng, lợi thế về đất đai, lao động góp phần nâng cao thu nhập;

Năm là, tăng cường xã hội hoá các hoạt động công ích và dịch vụ công, đầu tư kinh doanh hạ tầng kinh tế - xã hội và các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế, văn hóa, thể dục thể thao. Chăm lo phát triển kinh tế tập thể; tiếp tục đổi mới hoạt động của các hợp tác xã; tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, chú trọng phát triển các thành phần kinh tế đi đôi với giải quyết tốt vấn đề công bằng xã hội;

Sáu là, tập trung thực hiện có hiệu quả các chương trình quốc gia về giải quyết việc làm, giảm nghèo, an sinh xã hội. Chú trọng công tác đào tạo, nâng cao tay nghề cho người lao động có trình độ chuyên môn thấp, hướng nghiệp cho những người bước vào độ tuổi lao động, đặc biệt thanh niên khu vực nông thôn thường xuyên làm những công việc giản đơn có thu nhập thấp. Nâng cao trình độ dân trí, bồi dưỡng kiến thức, hướng dẫn kinh nghiệm làm ăn và chuyển giao kỹ thuật, khoa học công nghệ;

Bảy là, chuyển bớt nguồn lực đầu tư vào những ngành công nghiệp làm ăn không hiệu quả sang phát triển nông nghiệp và nông thôn thì không những giúp tăng hiệu quả kinh tế mà còn cải thiện đời sống của rất nhiều người nghèo tại vùng này.

Tóm lại: Để thực hiện tốt mục tiêu và những giải pháp ở trên đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, không đề cao và xem nhẹ một giải pháp nào. Có như vậy công tác thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, nâng cao thu nhập, nâng cao mức sống của người dân sẽ đạt được kết quả tốt, góp phần cùng cả nước tiến tới giảm nghèo xây dựng một xã hội “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.


Nguyễn Văn Báu  (Cập nhật ngày 05-09-2017)    



Các tin liên quan:
  Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định tháng 7 năm 2017 (25-07-2017)
  Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định tháng 5 năm 2017 (24-05-2017)
  Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bình Định 4 tháng đầu năm 2017 (25-04-2017)
  Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bình Đinh Quý I năm 2017 (26-03-2017)
  Báo cáo tình hình KTXH tỉnh Bình Định tháng 02 năm 2017 (24-02-2017)
Tổng điều tra kinh tế
Điều tra GDP quý 2016
Điều tra hoạt động xây dựng và vốn đầu tư phát triển
Chuẩn mực đạo đức lối sống nghề nghiệp
Hiến pháp năm 2013
Tuyên truyền phổ biến pháp luật về biển
phap dien
Luật thống kê 2015
Nghị định 95/2016/NĐ-CP
Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh huyện xã
Hệ thống biểu mẫu thu thập
tài liệu hướng dẫn đánh giá
Điều tra
 
Xem tốt với trình duyệt IE 7.0+, Firefox 3.0+, Google Chrome 2.0+
Phát triển bởi Trung tâm Ứng dụng CNTT & Viễn thông Bình Định (ITA)
Công nghệ eGovWeb CMS 1.52 do ITA phát triển
BẢN QUYỀN THUỘC VỀ CỤC THỐNG KÊ BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: 60 Nguyễn Công Trứ, Thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định
Tel: 056.3821206 - Fax: 056.3821206 - Email: binhdinh@gso.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Trương Minh Trí, Phó Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Bình Định,Tổng biên tập.