TRANG CHỦ    TIN TỨC - SỰ KIỆN    Thống kê Nông nghiệp
  TRANG CHỦ
  GIỚI THIỆU
  TIN TỨC - SỰ KIỆN
  PHÂN TÍCH THỐNG KÊ
  SỐ LIỆU THỐNG KÊ
  ẤN PHẨM THỐNG KÊ
  VĂN BẢN PHÁP LUẬT
  HỎI ĐÁP
  LỊCH CÔNG TÁC
  CHẾ ĐỘ BÁO CÁO
  HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ M
  Thống kê người dùng
  Đang online:
36
  Số lượt truy cập:
1165457
Tổng cục thống kê
Tin nổi bật trong ngành
chi dao điều hanh cua tinh
Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Sở Công thương
Sở Kế hoạch và Đầu tư
Báo cáo Tổng cục Thống kê
Mail.gso
Đề án GRDP
Thực hiện Quyết định số 1225/QĐ-TTg ngày 31 tháng 7 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016, tỉnh Bình Định đã triển khai cuộc Tổng điều tra trên địa bàn tỉnh. Qua tổng hợp nhanh kết quả cuộc Tổng điều tra nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2016 cho thấy trong những năm gần đây tình hình nông thôn tỉnh Bình Định tiếp tục phát triển toàn diện song còn nhiều khó khăn, thách thức.

         Thứ nhất, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn đã được đầu tư xây dựng mới và nâng cấp cả về chiều rộng và chiều sâu.

Mạng lưới điện đã được phủ rộng hầu hết khu vực nông thôn: cả tỉnh có 100% xã và thôn có điện. Đây là thành tựu lớn của Chương trình cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo. Điện khí hoá nông thôn đã nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, góp phần thu hẹp khoảng cách giữa nông thôn và thành thị, giữa vùng núi, vùng sâu và đồng bằng. Tuy nhiên, trong các xã thôn có điện còn xã Nhơn Châu với 3 thôn chưa dùng điện lưới quốc gia mà chỉ dùng máy phát điện động cơ dầu Diesel.

Hệ thống giao thông nông thôn có sự phát triển mạnh về số lượng và chất lượng:Đến thời điểm 01/7/2016 cả tỉnh có 125 xã (trừ 1 xã đảo) có đường ô tô từ trụ sở UBND huyện đến trụ sở UBND xã, chiếm 99,21% tổng số xã; giao thông nông thôn đảm bảo thường xuyên thông suốt, với 99,21% xã có đường ô tô đến trụ sở UNBD xã đi lại được quanh năm.

Hệ thống giao thông đến cấp thôn được chú trọng phát triển mạnh với 99,4% số thôn có đường ô tô đến UBND xã (năm 2011 đạt 98%); trong đó, Quy Nhơn, An Lão, Hoài Nhơn, Hoài Ân, Tây Sơn, Phù Cát, Hoài Ân có 100% số thôn đạt chỉ tiêu này. Sự phát triển của hệ thống giao thông nông thôn tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, tiêu thụ sản phẩm và đời sống của cư dân nông thôn.

Thứ hai, các yếu tố phúc lợi xã hội của người dân nông thôn ngày càng được quan tâm; đời sống vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao.

Hệ thống trường học ở khu vực nông thôn được duy trì ổn định: Đến năm 2016, hệ thống trường tiểu học đã cơ bản phủ khắp các xã, cả tỉnh có 100% số xã đã có trường tiểu học (năm 2011 đạt 99,2%) Tỷ lệ xã có trường THCS đạt 90,5% và 15,1% số xã có trường THPT (tương ứng năm 2011 lần lượt là 88,4%; 14%).

Cùng với sự phát triển của hệ thống trường học tại cấp xã, các trường mẫu giáo, mầm non đã phát triển theo hướng gia tăng số xã có trường và giảm số thôn có lớp phân tán tại một số vùng. Cả tỉnh đạt tỷ lệ 100% số xã có trường mẫu giáo, mầm non (năm 2011 đạt tỷ lệ 98,5%, tương ứng còn 2 xã chưa có trường mẫu giáo, mầm non). Trong khi đó, tỷ lệ thôn có lớp mẫu giáo, mầm non chỉ còn 73,1% số thôn (năm 2011 đạt 90,6% số thôn có lớp mẫu giáo, mầm non).

Hệ thống cơ sở vật chất văn hóa được tăng cường: Tỷ lệ xã có nhà văn hóa đã tăng khá trong vòng 5 năm qua, từ 26,4% năm 2011, đến năm 2016 đạt 58,7% số xã có nhà văn hóa. Một số huyện, thị xã, thành phố có trên 90% số xã có nhà văn hóa xã (An Lão 90,2%, Hoài Nhơn 100%, Vĩnh Thạnh 96,2%, Phù Cát 91,6%). Cả tỉnh có 85,1% số thôn có nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng. Tại thời điểm 01/7/2016, cả tỉnh có 92,1% số xã có tủ sách pháp luật, trong đó Quy Nhơn, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Vĩnh Thạnh, Phù Cát, An Nhơn, Tuy Phước có 100% số xã; 2 huyện miền núi An Lão, Vân Canh chỉ có 66,7% số xã có tủ sách pháp luật. Tỷ lệ xã có hệ thống loa truyền thanh tăng từ 93,8% năm 2011 lên 100% năm 2016.

Hệ thống cơ sở y tế nông thôn tiếp tục được củng cố, phát triển: Đến năm 2016, cả tỉnh có 126 xã có trạm y tế xã, đạt 100% số xã, trong đó có 78,6% số xã được công nhận đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã theo tiêu chuẩn giai đoạn đến 2020. Cả tỉnh, tỷ lệ thôn có cán bộ y tế thôn/cô đỡ thôn bản đạt 99,53%.

Vệ sinh môi trường nông thôn đã từng bước được cải thiện: Để môi trường nông thôn xanh -  sạch không ô nhiễm, nhiều xã đã có hệ thống thoát nước thải sinh hoạt tập trung, tổ chức thu gom rác thải sinh hoạt để xử lý tập trung. Tính đến thời điểm 01/7/2016 cả tỉnh có 15,1% số xã và 4,7% số thôn đã xây dựng hệ thống thoát nước thải sinh hoạt chung, tương ứng năm 2011 chỉ đạt 14% số xã và 3,3% số thôn. Trong đó, thành phố Quy Nhơn đạt tỷ lệ cao nhất với 80% số xã và 52,9% số thôn. Những năm gần đây hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn nông thôn đã được nhiều địa phương quan tâm. Đến năm 2016, cả tỉnh có 50% số xã có tổ chức thu gom rác thải (năm 2011 có 29,5%) và 31,4% số thôn có tổ chức thu gom rác thải (tăng gấp 1,2 lần số thôn có tổ chức thu gom của năm 2011). Tuy kết quả đạt được còn thấp và chưa đều giữa các các địa phương nhưng xu hướng chung là tăng dần so với các kỳ Tổng điều tra trước. Thành phố Quy Nhơn đạt tỷ lệ cao nhất về hai chỉ tiêu trên (100% và 88,2%), riêng huyện Hoài Ân không có hoạt động thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn nông thôn.

Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn nhanh. Hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa tiếp tục được xây dựng.

Khu vực nông thôn hiện có 144.425 hộ NLTS, chiếm 50,2%; 60.193 hộ CN-XD, chiếm 20,9%; 57.609 hộ thương nghiệp, vận tải, dịch vụ khác, chiếm 20,01% và 25.750 hộ khác, chiếm 8,94%. Sau 5 năm, cơ cấu hộ khu vực nông thôn có sự chuyển dịch rõ nét từ hộ NLTS sang hộ phi NLTS. Tỷ trọng hộ NLTS giảm từ 52,54% năm 2011 xuống 50,15% năm 2016;tỷ trọng hộ phi NLTS tăng tương ứng 47,46% và 49,84% (trong đó: thương nghiệp, vận tải, dịch vụ khác tăng từ 19,55% lên 20,01%; hộ công nghiệp, xây dựng giảm nhẹ từ 20,96% xuống 20,9%).

Song song với quá trình chuyển dịch cơ cấu, quá trình chuyển dịch cơ cấu nguồn thu nhập chính ở khu vực nông thôn cũng đồng thời diễn ra. Số hộ có nguồn thu nhập lớn nhất từ hoạt động NLTS vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất nhưng có xu hướng giảm. Sau 5 năm, tỷ trọng hộ có nguồn thu nhập từ NLTS giảm từ 49,66% năm 2011 xuống còn 48,45% năm 2016; hộ có nguồn thu nhập chính từ thương nghiệp, vận tải, dịch vụ khác tăng từ  19,96% lên 20,47%; hộ có nguồn thu nhập chính từ công nghiệp, xây dựng giảm nhẹ từ 22,19% xuống còn 21,61%. Riêng các huyện miền núi do điều kiện địa hình khó khăn, trình độ dân trí thấp nên ngành nghề chậm phát triển, hoạt động kinh tế hộ vẫn chủ yếu là NLTS.

Chợ nông thôn có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế hang hóa. Đến năm 2016, cả tỉnh có 79,4% số xã có chợ (năm 2011 đạt 75,2%). Mạng lưới cửa hàng cung cấp giống, nguyên liệu, vật tư và thu mua sản phẩm NLTS cho người dân phát triển nhanh và tăng ở tất cả các vùng trên cả tỉnh; số xã có điểm/cửa hàng đạt tỷ lệ 88,9% (năm 2011 đạt 80,6%).

Thứ tư, kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Trong thời gian qua, Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới được triển khai rộng khắp trên toàn quốc và đã đạt những kết quả khả quan. Bức tranh nông thôn có nhiều thay đổi, nhất là kết cấu hạ tầng nông thôn. Hình thức tổ chức sản xuất tập trung được phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện. Tính đến thời điểm 01/7/2016 cả tỉnh có 28 xã đạt chuẩn NTM, chiếm 22,95% tổng số xã thực hiện xây dựng NTM.

Tỷ lệ xã đạt chuẩn NTM có sự khác biệt lớn giữa các huyện, thị xã, thành phố trong cả tỉnh, thành phố Quy Nhơn đạt cao nhất (50%), tiếp đến là Tuy Phước, Hoài Nhơn, An Nhơn, Tây Sơn, Phù Mỹ, Hoài Ân, Phù Cát lần lượt là 36,36%, 33,33%, 30%, 28,57%, 25%, 21,43%, 18,57%, riêng 3 huyện miền núi chưa có xã nào đạt chuẩn NTM. Trong thời gian tới, số lượng xã đạt chuẩn NTM sẽ tăng lên do một số xã đã đạt toàn bộ 19 tiêu chí (theo đánh giá của BCĐ cấp huyện) và đang chờ cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Mặc dù số xã chưa đạt chuẩn NTM còn nhiều nhưng cho đến nay kết quả thực hiện các tiêu chí NTM tương đối khả quan, biểu biện qua số lượng xã chưa đạt NTM được đánh giá đạt từ 10 tiêu chí trở lên chiếm hơn 65% tổng số xã của cả tỉnh, tương ứng hơn hai phần ba (84%) tổng số xã chưa đạt chuẩn NTM.

Trong những năm gần đây mặc dù Nhà nước và xã hội đã quan tâm, đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và phát triển kinh tế ở nông thôn để hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp của tỉnh và thực hiện tốt Chương trình MTQG về án xây dựng nông thôn mới, nhưng kết quả còn hạn chế thể hiện qua một số nét sau:

 (1) Về giao thông nông thôn, hệ thống đường giao thông ở vùng sâu, vùng núi cao, hải đảo còn nhiều khó khăn, đặc biệt xã đảo Nhơn Châu đi lại giữa đất liền và đảo còn khó khăn, phương tiện tàu thuyền còn thô sơ, nhất là mùa mưa bão hầu như chia cắt với đất liền.

(2) Về giáo dục nông thôn, 26,86% thôn vẫn chưa có trường, lớp mẫu giáo làm ảnh hưởng chương trình phổ cập mẫu giáo, mầm non cho trẻ 5 tuổi; 92,67% thôn chưa có nhà trẻ nên nhiều trẻ nhỏ thiếu nơi trông giữ dẫn đến nhiều phụ nữ trong độ tuổi lao động khó có thể tham gia hoạt động kinh tế để tạo ra thu nhập.

(3) Về y tế nông thôn, 61,9% xã chưa có cơ sở khám chữa bệnh tư nhân và 33,33% xã chưa có cơ sở kinh doanh thuốc tây y làm ảnh hưởng đến nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân.

(4) Về vệ sinh môi trường còn nhiều bất cập, hiện chỉ có 31,4% số thôn có xử lý rác thải sinh hoạt và 4,77% số thôn có hệ thống thoát nước thải chung. Bên cạnh đó, việc xây dựng hệ thống thoát nước thải cũng chỉ tập trung ở một số địa bàn nông thôn.Vì vậy việc xả thải bừa bãi ra môi trường xung quanh ảnh hưởng đến nhiều hộ lân cận.

(5) Chất lượng NTM ở một số địa phương chưa cao, thiếu bền vững; đời sống vật chất, tinh thần người dân còn nhiều khó khăn, thu nhập còn thấp; các mô hình sản xuất có hiệu quả chưa được nhân rộng. Tính hợp tác, liên kết theo hướng tập trung từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm chưa rõ nét. Vai trò của 4 nhà (nhà khoa học, nhà doanh nghiệp, Nhà nước, nhà nông) trong sản xuất nông nghiệp chưa được phát huy đồng bộ. Thiết chế đời sống văn hóa ở nông thôn có nơi còn hạn chế. Vấn đề giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nông dân, giảm tỷ lệ hộ nghèo ở nông thôn vẫn cần được quan tâm hơn.

(6) Sự chuyển dịch cơ cấu từ hộ nông, lâm, thủy sản sang hộ phi nông lâm thủy sản chưa nhanh và không đồng đều giữa các địa phương.

Vì vậy, để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần người dân, các địa phương cần quan tâm giải quyết nhằm đảm bảo cho quá trình hiện đại hóa nông thôn, nông nghiệp của tỉnh và thực hiện tốt Chương trình MTQG về án xây dựng nông thôn mới, đó là: tiếp tục đầu tư, nâng cấp kết cấu hạ tầng nông thôn, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu, công trình trực tiếp phục vụ sản xuất, có tính bức thiết trên địa bàn, đặc biệt là hệ thống giao thông nội đồng; đầu tư trang thiết bị và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ ngành giáo dục và y tế; triển khai thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội trước mắt và lâu dài; chuyển dịch cơ cấu hộ nông thôn nhanh và đồng đều giữa các huyện; cải thiện vấn đề vệ sinh môi trường nông thôn.


Lê Oanh Trưởng  (Cập nhật ngày 19-06-2017)    



Các tin liên quan:
  Huyện Hoài Ân phát triển trồng cây ăn quả theo quy trình VIETGAP (30-05-2017)
  Hoài Nhơn phát triển nghề khai thác thủy sản (17-04-2017)
  Thực trạng và giải pháp ngành công nghiệp chế biến dăm gỗ huyện Vân Canh (27-03-2017)
  Mô hình chăn nuôi chọn tạo và nhân giống gà ta chất lượng cao tại công ty TNHH giống gia cầm Minh Dư (27-03-2017)
  Tình hình chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn huyện An Lão (15-03-2017)
  Văn bản mới
  Hình ảnh hoạt động
Tổng điều tra kinh tế
Điều tra GDP quý 2016
Điều tra hoạt động xây dựng và vốn đầu tư phát triển
Chuẩn mực đạo đức lối sống nghề nghiệp
Hiến pháp năm 2013
Tuyên truyền phổ biến pháp luật về biển
phap dien
Luật thống kê 2015
Nghị định 95/2016/NĐ-CP
Hệ thống chỉ tiêu thống kê cấp tỉnh huyện xã
Hệ thống biểu mẫu thu thập
tài liệu hướng dẫn đánh giá
Điều tra
 
Xem tốt với trình duyệt IE 7.0+, Firefox 3.0+, Google Chrome 2.0+
Phát triển bởi Trung tâm Ứng dụng CNTT & Viễn thông Bình Định (ITA)
Công nghệ eGovWeb CMS 1.52 do ITA phát triển
BẢN QUYỀN THUỘC VỀ CỤC THỐNG KÊ BÌNH ĐỊNH
Địa chỉ: 60 Nguyễn Công Trứ, Thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định
Tel: 056.3821206 - Fax: 056.3821206 - Email: binhdinh@gso.gov.vn
Chịu trách nhiệm nội dung: Ông Trương Minh Trí, Phó Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Bình Định,Tổng biên tập.